CÁC NGUỒN HÌNH THANH VỐN ĐẦU TƯ

1. TIẾT KIỆM TRONG NƯỚC

  • Tiết kiệm của chính phủ
  • Tiết kiệm của các công ty
  • Tiết kiệm của dân cư

2. TIẾT KIỆM NGOÀI NƯỚC

Nguồn tiết kiệm ngoài nước, đó chính là các khoản đầu tư nước ngoài (ĐTNN) hay còn gọi là đầu tư quốc tế. Đầu tư nước ngoài là phương thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để tiến hành sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ với mục đích kiếm tìm lợi nhuận hoặc vì những mục tiêu chính trị, xã hội nhất định.

cackenhVDTnuocngoai.jpg

Về bản chất đầu tư nước ngoài là hình thức xuất khẩu tư bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hóa. Xuất khẩu tư bản và xuất khẩu hàng hóa luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau trong chiến lược xâm nhập, chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn lớn của nước ngoài hiện nay. Nhiều trường hợp việc buôn bán hàng hóa ở nước sở tại là bước đi tìm hiểu thị trường, luật lệ để đi đến quyết định đầu tư. Cùng với hoạt động thương mại quốc tế, hoạt động đầu tư nước ngoài này ngày càng phát triển mạnh mẽ, hợp thành những dòng trào lưu có tính quy luật trong liên kết kinh tế toàn cầu hiện nay. Sự phát triển của đầu tư nước ngoài bắt nguồn từ một số nguyên nhân chủ yếu sau:

- Xu hường toàn cầu hóa, khu vực hóa đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư quốc tế.

- Sự phát triển nhanh chongs của cách mạng khoa học công nghệ và những tiến bộ vượt bậc trong lĩnh vực thông tin, truyền thông đã đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới cơ cấu kinh tế của các nước, tạo nên sự dịch chuyển vốn giữa các quốc gia.

- Sự thay đổi các yếu tố sản xuất, kinh doanh ở các nước sở hữu vốn tạo nên “lực đẩy” đối với đầu tư quốc tế.

- Nhu cầu vốn đầu tư để thực hiện công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển là rất lớn, tạo nên “sức hút” mạnh mẽ với nguồn vốn đầu tư nước ngoài.

Các nguồn vốn đầu tư nước ngoài có thể được mô tả qua Sơ đồ 7.1.

Như vậy, vốn đầu tư quốc tế có hai dòng chính là đầu tư của tư nhân (trong đó chủ yếu là đẩu tư trực tiếp nước ngoài – FDI) và đầu tư của Chính phủ hay các tổ chức quốc tế.

  • Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Nguồn vốn FDI là nguồn vốn đầu tư của tư nhân nước ngoài để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đây là một nguồn vốn lớn, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển.

FDI-outflows1997-2006.jpg Trong lịch sử thế giới FDI, đã tồn tại từ lâu, ngay từ thời tiền tư bản. Các công ty của Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha… là những công ty đi đầu trong lĩnh vực đầu tư FDI dưới hình thức đầu tư vốn vào các nước châu Á để khai thác đồn điền nhằm cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp của chính quốc. Cùng với các ngành khai thác đồn điền là các ngành khai thác khoáng sản, tài nguyên trong lòng đất đưa về chính quốc. Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, FDI đã có sự thay đổi rõ rệt với sự đầu tư ồ ạt của các nhà đầu tư Mỹ vào châu Âu theo kế hoạch Marshall để vực dậy phần lục địa bị chiến tranh tàn phá này. Sau đó là sự đầu tư lẫn nhau giữa các nước châu Âu, thực hiện sự liên minh tư bản, tăng cường khả năng kinh tế, chống độc quyền của các nhà đầu tư Mỹ. Từ đó, việc đầu tư trực tiếp nước ngoài trở nên thường xuyên hơn và được sử dụng phối hợp các hình thức xuất khẩu tư bản khác trở thành vũ khí lợi hại của các nước phương Tây trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới nhất là với các nước đang phát triển.

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, FDI đã có sự thay đổi rõ rệt với sự đầu tư ồ ạt của các nhà đầu tư Mỹ vào châu Âu theo kế hoạch Marshall để vực dậy phần lục địa bị chiến tranh tàn phá này. Sau đó là sự đầu tư lẫn nhau giữa các nước châu Âu, thực hiện sự liên minh tư bản, tăng cường khả năng kinh tế, chống độc quyền của các nhà đầu tư Mỹ. Từ đó, việc đầu tư trực tiếp nước ngoài trở nên thường xuyên hơn và được sử dụng phối hợp các hình thức xuất khẩu tư bản khác trở thành vũ khí lợi hại của các nước phương Tây trong việc thực hiện chủ nghĩa thực dân mới nhất là với các nước đang phát triển.

Ngày nay, FDI trở thành một tất yếu kinh tế trong điều kiện quốc tế hóa sản xuất và lưu thông. Không có một quốc gia nào, dù lớn hay nhỏ, dù phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa hay XHCN lại không cần đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và tất cả đều coi đó là nguồn lực quốc tế quan trọng cần khai thác để từng bước hòa nhập vào cộng đồng quốc tế. Ngay cả những quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh như Mỹ, Nhật, dưới tác động của khoa học công nghệ hiện nay cũng không thể tự mình giải quyết được những vấn đề kinh tế, xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục đặt ra. Chỉ có con đường hợp tác, trong đó có FDI là quá trình đầu tư, hợp tác có hiệu quả.

Đầu tư FDI tông tại dưới nhiều hình thức, song những hình thức chủ yếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh; doanh nghiệp liên doanh; doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản ký kết giữa hai hoặc nhiều bên (gọi là bên hợp doanh) quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư mà không thành lập một pháp nhân.

Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Doanh nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, có tư cách pháp nhân theo pháp luận của nước tiếp nhận đầu tư.

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầ tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài) do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh.

Vai trò của nguồn vốn FDI

Trước hết, nói đến vai trò của FDI đối với các nước đi đầu tư được thể hiện ở một số ích lợi sau:

- Thông qua đầu tư FDI, các nước đi đầu tư tận dụng được những lợi thế về chi phí sản xuất thấp của các nước nhận đầu tư (giá nhân công rẻ, chi phí khai thác nguyên, vật liệu tại chỗ thấp) để hạ giá thành sản phẩm, giảm chi phí vận chuyển đối với việc sản xuất hàng thay thế nhập khẩu ở các nước tiếp nhận đầu tư. Nhờ đó, mà nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư.

- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cho phép các công ty có thể kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm đã được sản xuất và tiêu thụ ở thị trường trong nước. thông qua FDI, các công ty của các nước phát triển chuyển được một phần các sản phẩm công nghiệp ở giai đoạn cuối của hcu kỳ sống sản phẩm sang các nước nhận đầu tư để tiếp tục sử dụng chúng như những sản phẩm mới ở các nước này, tạo thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư.

- Giúp các công ty chính quốc tạo dựng được thị trường cung cấp nguyên, vật liệu dồi dào, ổn định với giá rẻ.

- Cho phép chủ đầu tư bành trướng sức mạnh về kinh tế, tăng cường khả năng ảnh hưởng của mình trên thị trường quốc tế, nhở mở rộng được thị trường tiêu thụ sản phẩm, tăng cường sức cạnh tranh với các hàng hóa nhập từ các nước khác.

Đối với các nước tiếp nhận đầu tư (chủ yếu là các nước đang phát triển), nguồn vốn FDI có những tác dụng sau:

- FDI giải quyết tình trạng thiếu vốn cho phát triển kinh tế xã hội do tích lũy nội bộ thấp, cản trở đầu tư và đổi mới kỹ thuật trong điều kiện khoa học, kỹ thuật thế giới phát triển mạnh. Các nước NÍC trong gần 30 năm qua, nhờ nhận được trên 50 tỷ USD đầu tư nước ngoài cùng với chính sách kinh tế năng động, hiệu quả đã trở thành những con rồng châu Á.

- Cùng với việc cung cấp vốn, thông qua FDI các công ty nước ngoài đã chuyển giao công nghệ từ nước mình hoặc nước khác sang cho nước tiếp nhận đầu tư, do đó các nước tiếp nhận đầu tư có thể nhận được những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hiện đại (thực tế, có những công nghệ không thể mua được bằng quan hệ thương mại đơn thuần), những kinh nghiệm quản lý, năng lực marketing, đội ngũ lao động được đào tạo, rend luyện về mọi mặt (trình độ kỹ thuật, phương pháp làm việc, kỷ luận lao động…).

- Đầu tư FDI làm cho các hoạt động đầu tư trong nước phát triển, thúc đẩy tính năng động và khả năng cạnh tranh trong nước, tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các tiềm năng của đất nước. Điều đó có tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu king tế theo hướng tích cực.

- Với tiệc tiếp nhận FDI, không đẩy các nước vào cảnh nợ nần, không chịu những rằng buộc về chính trị, xã hội. FDI góp phần tăng thu cho ngân sách nhà nước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài. Thông qua hợp tác với nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới. Như vậy các nước có khả năng tốt hơn trong việc huy động tài chính cho các dự án phát triển.

Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư, bên cạnh những ưu điểm thì FDI cũng có những hạn chế nhất định. Đó là, nếu đầu tư vào nơi có môi trường bất ổn về kinh tế và chính trị, thì đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn. Còn đối với nước sở tại, nếu không có quy hoạch cho đầu tư cụ thể và khoa học thì sẽ dễ dẫn tới chỗ đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Thể loại: Cần bổ sung

Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License