Ngoại thương với phát triển kinh tế

I. LỢI THẾ CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG


1. Lợi thế tuyệt đối của ngoại thương

A. Smith là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương. Trong chương II, khi nghiên cứu mô hình kinh tế cổ điển, chúng ta đã biết rằng các nhà kinh tế cổ điển cho đất đai là giới hạn của tăng trưởng. Khi nhu cầu lương thực tăng lên, phải tiếp tục sản trên những đất đai cằn cỗi, không đảm bảo được lợi nhuận cho các nhà tư bản thì họ sẽ không sản xuất nữa. Các nhà kinh tế cổ điển gọi đấy là bức tranh đen tối của tăng trưởng. Trong điều kiện đó A.Smith cho rằng, có thể giải quyết bằng cách phát triển công nghiệp và sử dụng sản xuất của ngành này xuất khẩu để mua lương thực từ nước ngoài về. Như vậy, thông qua việc mua – bán trao đổi sản phẩm đã giải quyết được mặt hạn chế của tăng trưởng.

Do đó, có thể nói lợi thế tuyệt đối là lợi thế có được trong điều kiện so sánh chi phí để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, khi một nước sản xuất sản phẩm có chi phí cao hơn sẽ nhập sản phẩm đó từ nước khác có chi phí sản xuất thấp hơn.

Lợi thế này được xem xét từ hai phía, đối với nước sản xuất sản phẩm có chi phí thấp sẽ thu được lợi nhuận nhiều hơn khi bán sản phẩm trên thị trường quốc tế. Còn đối với nước sản xuất sản phẩm với chi phí cao sẽ có được sản phẩm mà trong nước không có khả năng sản xuất hoặc sản xuất không đem lại lợi nhuận, người ta gọi là bù đắp được sự yếu kém về khả năng sản xuất trong nước.

Ngày nay, đối với các nước đang phát triển việc khai thác lợi thế tuyệt đối vần có ý nghĩa quan trọng khi chưa có khả năng sản xuất một số loại sản phẩm, đặc biệt là tư liệu sản xuất với chi phí có thể chấp nhận được. Ví dụ, việc không đủ khả năng sản xuất ra máy móc thiết bị là khó khăn đối với các nước đang phát triển, đã là nguyên nhân dẫn đến đầu tư thấp. Như chúng ta đã biết, các khoản tiết kiệm chưa thể trở thành vốn đầu tư chừng nào tư liệu sản xuất các doanh nghiệp cần đến chưa có. Bởi vì đó là các tư liệu sản xuất chưa sản xuất được trong nước mà phải nhập từ nước ngoài.

Khi tiến hành nhập những TLSX này, công nhân trong nước bắt đầu học cách sử dụng các máy móc thiết bị mà trước đây họ chưa biết và sau đó họ học cách sản xuất ra chúng. Về mặt này, vai trò đóng góp của ngoại thương giữa các nước công nghiệp phát triển và các nước đang phát triển thông qua việc bù đắp sự yếu kém về khả năng sản xuất TLSX và yếu kém về kiến thức công nghệ của các nước đang phát triển cũng được đánh giá là lợi thế tuyệt đối.


2. Lợi thế tương đối (so sánh)

Phát triển lý thuyết lợi thế tuyệt đối của hoạt động ngoại thương D.Ricardo đã nghiên cứu lợi thế này dưới góc độ chi phí so sánh để sản xuất ra sản phẩm. Ví dụ, chúng ta hãy xem khả năng trao đổi sản phẩm giữa Việt Nam và Nga đối với hai sản phẩm: thép và quần áo (xem bảng 9.1)

Sản phẩm Chi phí sản xuất(ngày công lao động
Việt Nam Nga
Thép (1 đơnvị) 25 16
Quần áo (1 đơn vị) 05 04

Xét theo chi phí sản xuất thì Việt Nam sản xuất thếp và quần áo đều có chi phí cao hơn Nga. Lợi thế tuyệt đối chỉ ra rằng Việt Nam không có khả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Nga. Song nếu chúng ta xét theo chi phí so sánh thì lại có cách nhìn khác (xem Bảng 9.2)

Sản phẩm Chi phí sản xuất(ngày công lao động
Việt Nam Nga
Thép (1 đơnvị) 05 04
Quần áo (1 đơn vị) 1/5 1/4

Theo chi phí so sánh thì thấy rằng CPSX thép của Việt Nam cao hơn Nga: để sản xuất một đơn vị thép ở Việt Nam cần 5 đơn vị quần áo trong khi ở Nga chỉ cần 4 đơn vị. Nhưng ngược lại chi phí sản xuất quần áo của Việt Nam lại thấp hơn của Nga; để sản xuất 1 đơn vị quần áo ở Việt Nam cần 1/5 đơn vị thép, trong khi ở Nga cần ¼ đơn vị. Điều này chỉ ra rằng Việt Nam và Nga có thể trao đổi sản phẩm cho nhau. Nga xuất khẩu thép sang Việt Nam và Việt Nam xuất khẩu quần áo sang Nga. Việc trao đổi này đưa ra lợi ích cho cả hai nước.

loiichcuaVNkhicongoaithuong.jpg

Trong sơ đồ này đường PPF phản ánh khả năng sản xuất thép và quần áo của Việt Nam:

- Khi chưa có ngoại thương, điểm A (nơi tiếp xúc giữa đường PPF và tiếp tuyết có độ dốc là (-5) phản ánh giá so sánh thép của Việt Nam) phảm ánh đồng thời khả năng sản xuất và tiêu dùng của Việt Nam: A(Ta, Qa).

- Khi có ngoại thương Việt Nam sẽ bán quần áo sang Nga và mua thép từ Nga về. Ở đây có vấn đề là giá trao đổi sẽ được thực hiện thế nào. Trong trường hợp này, đối với giá thép, Việt Nam nhập về không phải theo giá so sánh 5 hoặc 4 mà thông thường là giá quốc tế (5<Pt<4). Xác định ở mức giá nào phụ thuộc cung – cầu thép trên thị trường Việt Nam và Nga với thị trường quốc tế. Ở đây chúng ta ví dụ Việt Nam cần nhập 2 đơn vị thép và giá sẽ các định ở mức 4,5. Khi đó tại điểm B (nơi tiếp xúc giữa đường PPF) và tiếp tuyến có độ dốc là (-4, 5) sẽ phản ánh khả năng sản xuất của Việt Nam. B(Tb,Qb), có nghĩa là Việt Nam sẽ sản xuất nhiều quần áo hơn và sản xuất ít thép đi (Tb<T¬a). Và tại điểm C sẽ phản ánh khả năng tiêu dùng của Việt Nam. Chúng ta nhận xét là khả năng tiêu dùng này vượt ra khỏi giới hạn của đường PPF. Đó chính là lợi ích của Việt Nam có được dựa vào lợi thế so sánh: C(Tb+2, Qb-a).

Như vậy, lợi thế so sánh của ngoại thương là khả năng nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một nước thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa với nước khác dựa trên cơ sở chi phí so sánh để sản xuất những hàng hóa.

D.Ricardo đã đặt nền móng ban đầu cho việc lý giải sự hình thành quan hệ thương mại giữa hai quốc gia, đó chính là sự khác nhau về giá cả sản xuất tính theo chi phí so sánh. Tuy vậy ông chưa phân tích sâu về nguyên nhân của sự khác nhau đó và chưa giải thích vì sao giữa các nước lại có chi phí so sánh khác nhau. Để chỉ rõ điều này, hai nhà kinh tế người Thụy Điển là Eli Heckscher và Bertil Ohlin đã phát triển lý thuyết lợi thế so sánh, được gọi là lý thuyết Heckscher – Ohlin (H-O). Heckscher – Ohlin cho rằng mức độ sãn có của các yếu tố sản xuất ở các quốc gia khác nhau và mức sử dụng yếu tố để sản xuất sản phẩm là những nhân tố quan trọng quyết định sự khác biệt về chi phí so sánh.

Quay lại với ví dụ về quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nga, có thể giải thích rằng: Việt Nam là nước tương đối sẵn có về lao động, Việt Nam sẽ sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may là mặt hàng cần nhiều lao động. Còn Nga là nước tương đối sẵn có về vốn sẽ sản xuất và xuất khẩu thép, là mặt hàng cần nhiều vốn. Lý thuyết H-O đã giải thích sự có được lợi ích trong thương mại quốc tế là do mỗi nước đều hướng đến chuyên môn hóa sản xuất vào các ngành sử dụng nhiều yếu tố sẵn có trong nước. Như vậy có thể có lợi thế so sánh cho phép bất kỳ nước nào cũng có thể tăng thu nhập của mình thông qua ngoại thương, ngay cả khi một nước sản xuất mọi sản phẩm với chi phí tuyệ đối thấp hơn một nước khác bởi vì thị trường thế giới tạo ra cơ hội để có thể mua hàng hóa với giá tương đối rẻ so với giá được lưu hàng trong nước, nếu không có ngoại thương. Nội dung này xuất phát từ sự khác nhau về chi phí so sánh để sản xuất sản phẩm.


3. Tác động của ngoại thương đến tăng trưởng kinh tế

Hoạt động kinh tế đối ngoại của một nước bao gồm ba nội dung cơ bản:

- Hoạt động ngoại thương, đó là hoạt động xuất – nhập khẩu hàng hóa.

- Hoạt động hợp tác: bao gồm hợp tác đầu tư và hơp tác khoa học – công nghệ.

- Hoạt động dịch vụ: đó là hoạt động vận tải, bảo hiểm, ngân hàng, du lịch…

Trong hoạt động kinh tế đối ngoại, ngoại thương giữ vị trí quan trọng, nó tạo điều kiện phát huy được lợi thế của từng nước trên thị trường quốc tê. Kết quả hoạt động ngoại thương của một nước được đánh giá qua cân đối thu chi ngoại tệ dưới hình thức “Cán cân thanh toán xuất nhập khẩu”, kết quả này sẽ làm tăng hoặc giảm thu nhập của đất nước, do đó mà nó tác động đến tổng cầu của nền kinh tế. Khi cán cân thanh toán có mức xuất siêu sẽ làm cho mức chi tiêu giảm, từ đó mà tác động đến GDP. (xem sơ đồ 9.2).

Dựa vào quan điểm ngoại thương các nước có nhiều cách khác nhau trong việc lựa chọn đường lối phát triển. Song nhìn chung có ba chiến lược cơ bản.

- Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô.

- Chiến lược thay thế hàng hóa nhập khẩu.

- Chiến lược hướng ra thị trường quốc tế.

Mỗi cách lựa chọn đều có những tác động khác nhau đến phát triển kinh tế của các nước.

5.jpg
Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License