Tài nguyên thiên nhiên với phát triển kinh tế

1. Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố nguồn lực quan trọng

Tài nguyên thiên là một trong những yếu tố nguồn lực đầu vào của quá trình sản xuất. Xét trên phạm vi toàn thể giới, nếu không có tài nguyên , đất đai thì sẽ không có sản xuất và cũng không có sự tồn tại của con người. Tuy nhiên, đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế, tài nguyên thiên nhiên chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Trên thực tế, nếu công nghệ là cố dịnh thì lưu lượng của TNTN sẽ là mức hạn chế tuyệt đối về sản xuất vật chất trong ngành công nghiệp sử dụng khoáng quặng làm nguyên liệu đầu vào như nhôm, thép…TNTN chỉ trở thành sức mạnh kinh tế khi con người biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả. Thực tế đã cho thấy nhiều quốc gia mặc dù có trữ lượng tài nguyen phong phú, đa dạng, điều kiện thuận lợi, song vẫn là nước nghèo và kém phát triển, ví dụ như Cô-oét, Arập-Sêút, Vê nê zuê la, Chi lê. Ngược lại nhiều quốc gia có ít tài nguyên khoáng sản nhưng lại trở thành những nước công nghiệp phát triển như Nhật Bản, Anh, Pháp, Italia…

Có thể nói, TNTN là yếu tố thúc đẩy sản xuất phát triển, các nước đang phát triền thường quan tâm đến việc xuất khẩu sản phẩm thô, đó là những sản phẩm được khai thác trực tiếp từ nguồn TNTN của đất nước, chưa qua chế biến hoặc ở dạng sơ chế. Nguồn TNTN cũng là cơ sở để phát triển các ngành sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, công nghiệp chế biên, các ngành công nghiệp năng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, thủy tinh, sành sứ…


2. Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở tạo tích lũy vốn và phát triển ổn định

Đối với hầu hết nước, việc tích lũy vốn đòi hỏi một quá trình lâu dài, gian khổ liên quan chặt chẽ với tiêu dùng trong nước và thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài. Tuy nhiên, có nhiều quốc gia, nhờ những ưu đãi của tự nhiên có nguồn tài nguyên lớn, đa dạng nên có thể rút nhắn quá trình tích lũy vốn bằng cách khai thác các sản phẩm thô để bán hoặc để đa dạng hóa nền kinh tế tạo nguồn tích lũy vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước.

Như trên chúng ta đã thấy, nguồn TNTN thường là cơ sở để phát triển một số ngành công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Sự giàu có về tài nguyên, đặc biệt về năng lượng giúp cho một quốc gia ít bị lệ thuộc hơn vào các quốc gia khác và có thể tăng trưởng một cách ổn định, độc lập khi thị trường tài nguyên thế giới bị rời vào trạng thái bất ổn.


3. Căn bệnh Hà Lan – một bài học trong khai thác tài nguyên

Vào những năm 1960 thế kỷ trước, thường có quan điểm cho rằng tài nguyên thiên nhiên là yếu tố cơ bản để đạt được tăng trưởng kinh tế cao. Nhưng thực tế cho thấy rằng, vào thời gian từ năm 1973 đến năm 1982, khi giá dầu mỏ tăng lên, tất cả những khoản tiền khổng lồ thu được nhờ vào những khoản thu nhập về thuế đều làm cho các nước xuất khẩu tài nguyên có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Thu nhập dầu mỏ đã làm tăng thu nhập thực tế bình quân đầu người, tạo thêm cơ hội việc làm và tăng cá phương án lựa chọn chính sách. Nhưng nó cũng làm thay đổi những động lực kinh tế, bóp méo và làm mất ổn định năng lượng đầu ra của một số ngành không phải là dầu mỏ, thường là nông nghiệp.

Điển hình là trường hợp của Hà Lan, thường được gọi là “căn bệnh Hà Lan”. Trong suốt thời gian từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến năm 1975, Hà Lan đạt được sự thành công đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực, nạn lạm phát ít khi vượt quá 3% một năm. Tốc độ tăng GNP thường trên 5% và nạn thất nghiệp dao động xung quanh tỷ lệ 1%. Bí quyết của những thành công này là ở chỗ khu vực XK truyền thống của nước này có sức cạnh tranh mạnh so với những đối thủ của mình trên toàn thế giới, như sản phẩm nông nghiệp và hàng điện tử. Vào đầu những năm 1970, năm 1973 đến năm 1978 Hà Lan xuất khẩu và tăng 4% GNP. Đồng thời tỷ giá hối đoái cũng tăng lên và để mất đi gần 30% bạn hàng truyển thống. Kết quả là các cơ sở xuất khẩu truyển thống đã phải đương đầu với tai họa: chi phí sản xuất trong nước tăng lên, đồng đô la trên thị trường trong nước bị sụt giá. Những điểm này làm cho tỷ lệ lạm phát tăng từ 2% năm 1970 lên 10% năm 1975 và tốc độ tăng GNP giảm từ 5% xuống còn 1%.

Unless otherwise stated, the content of this page is licensed under Creative Commons Attribution-ShareAlike 3.0 License